Giá vàng giao ngay thế giới 9h50' ngày 3/2: 211,68 USD/chỉ. Giá vàng 9999 tại Hà Nội 9h25' ngày 3/2 mua: 4510 nghìn đồng/chỉ, bán: 4542 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số chứng khoán ngày 3/2: VN-Index: 401,74 +0,13 HNX-Index : 61,85 - 0,72 Thời gian giao dịch phục vụ khách hàng tại các Chi nhánh, PGD, QTK của VietinBank – Từ thứ 2 tới thứ 6: Từ đầu giờ sáng tới 17h30; Thứ 7: Từ đầu giờ sáng tới 12h (trừ ngày lễ, tết).
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAMBÁO CÁO THƯỜNG NIÊN 2002KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM NĂM 2002 - Thành lập năm 1998, là một trong bốn ngân hàng thương mại Nhà nước lớn nhất của Việt Nam và được xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt. - Có Hệ thống mạng lưới gồm 2 Sở Giao dịch, 114 chi nhánh, 139 phòng giao dịch và 383 quỹ tiết kiệm cùng 2 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Ðào tạo và Trung tâm Công nghệ Thông tin. - Sở hữu các công ty con: Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán và Công ty Quản lý Tài sản. - Ðồng sáng lập và là cổ đông chính trong Indovina Bank, Công ty Cho thuê Tài chính Quốc tế Việt Nam và Công ty Liên doanh Bảo hiểm Châu á - NHCT. - Có mạng lưới đại lý với 623 ngân hàng trên khắp thế giới. - Các dịch vụ cung cấp: Mở tài khoản thanh toán và nhận tiền gửi, đầu tư cho vay và bảo lãnh, tài trợ thương mại, chuyển tiền, phát hành và thanh toán thẻ, séc du lịch, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và cho thuê tài chính v.v.
Thưa quý vị, Năm 2002, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tựu khả quan với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,04%, là mức cao nhất trong 4 năm qua. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thử thách lớn do bị ảnh hưởng bởi diễn biến phức tạp của nền kinh tế thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm đáng kể, thị trường vốn và thị trường xuất khẩu một số hàng hoá thế mạnh của Việt Nam bị thu hẹp, giá cả vừa giảm sút vừa không ổn định, sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ còn thấp v.v. Hoạt động của hệ thống ngân hàng năm qua tiếp tục có những chuyển biến tích cực trên cơ sở Ngân hàng Nhà nước đã mở ra nhiều cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng như: Cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng; giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc; đẩy mạnh hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường mở; SWAP ngoại tệ v.v. Những thuận lợi và khó khăn trên đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và quan Ðề án cơ cấu lại tổ chức và hoạt động đang được triển khai có kết quả. Công tác xử lý thu hồi nợ tồn đọng năm 2002 đã có bước chuyển biến tích cực với việc trích quỹ dự phòng xử lý rủi ro trên 700 tỷ đồng (gấp 1,5 lần kế hoạch) và đẩy nhanh tốc độ xử lý tài sản, xử lý thu hồi nợ tồn đọng được trên 1.300 tỷ đồng. Do đạt kế hoạch thu hồi nợ tồn đọng trong hai năm 2001, 2002 được trên 2.200 tỷ đồng theo tiến độ đề án cơ cấu lại nợ đã được Chính phủ phê duyệt nên trong năm 2002 NHCTVN đã được cấp bổ sung 1.000 tỷ đồng vốn điều lệ. Hệ thống màng lưới được mở rộng, năm NHCTVN đã đưa vào triển khai thí điểm dự án hiện đại hoá chi nhánh (OSFA) và đang đẩy nhanh việc triển khai đồng bộ dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Mặt khác, NHCTVN đã tổ chức nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc phát hành thẻ tín dụng quốc tế VISA/Master, thẻ tiền lẻ và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ ATM hiện có. NHCTVN đã phối hợp với đối tác hoàn tất các thủ tục cần thiết thành lạap liên doanh bảo hiểm phi nhân thọ với số vốn ban đầu 6 triệu USD, dự kiến đi vào hoạt động vào đầu năm 2003. Năm 2003, năm NHCTVN tròn 15 tuổi, cùng với việc “Phát triển - an toàn - hiệu Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ, năm 2003 NHCTVN sẽ tập trung nguồn Nhân dịp này, thay mặt Hội đồng quản trị, Ban điều hành và toàn thể cán bộ, nhân viên NHCTVN, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự chỉ đạo và giúp đỡ có hiệu quả của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ban ngành hữu quan, các bạn hàng trong và ngoài nước đặc biệt là sự hợp tác chặt chẽ và sự tin tưởng của Khách hàng đã góp phần to lớn vào thành công của NHCTVN trong năm 2002 và những năm qua. Chúng tôi mong muốn và hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm và hợp tác có Trân trọng ! TS. Nguyễn Văn Bính Chủ tịch Hội đồng quản trị
VÀI NÉT TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2002 Năm 2002, tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt mức 2,8%. Trong khi thương mại và sản xuất công nghiệp nhích lên thì thị trường tài chính lại suy yếu đi đáng kể.
Mức tăng trưởng cao của 2002 và những tiền đề cho tốc độ tăng trưởng này là tín hiệu khả quan để tin rằng năm 2003 có thể hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đã đặt ra.
KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NĂM 2002 Huy động vốn
Hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm dự thưởng cũng bắt đầu áp dụng từ năm 2002 đã lôi cuốn được sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân có tiền nhàn rỗi muốn gửi tiền vào ngân hàng. Hiện nay nguồn tiền gửi dân cư chiếm 40% tổng nguồn vốn huy động và là nguồn huy động ổn định nhất trong cơ cấu tài sản nợ.
Năm 2002 đánh dấu một năm nhu cầu tín dụng của nền kinh tế tăng mạnh. Bên cạnh đó Chính phủ và NHNN cũng ban hành một số nghị định và cơ chế tín dụng tháo gỡ cơ bản những vướng mắc về cơ chế cho vay trước đây, trong đó quan trọng nhất là mở rộng tối đa quyền tự chủ của các tổ chức tín dụng tự quyết định đầu tư đối với sự phát triển kinh tế. Số dự án trung dài hạn được thẩm định và ký kết cho vay trong năm 2002 nhiều hơn năm 2001, trong đó tham gia hợp vốn đồng tài trợ 5 dự án là những công trình thuộc các ngành kinh tế quan trọng, như Ðuôi hơi Phú Mỹ 2.1MR, Thuỷ điện Sê San, Xi măng Hải Phòng, Gang thép Thái Nguyên, Ðiện Cà Mau. NHCTVN tiếp tục cho vay phát triển nông thôn, bao gồm cho vay trồng trọt chăn nuôi, cho vay thu mua lương thực, nhập khẩu phân bón, cho vay chế biến nông sản xuất khẩu v.v., số dư lên đến hơn 4 nghìn tỷ đồng. Thị trường tiền tệ liên ngân hàng cũng chiếm số dư gần 10 nghìn tỷ, trong đó ngoại tệ đầu tư trên thị trường này gần 500 triệu USD. Hoạt động của các đơn vị liên doanh và công ty trực thuộc mà NHCTVN cấp vốn, góp vốn đều có hiệu quả. Năm 2002, Công ty cho thuê tài chính NHCTVN đã thành công trong việc khai thác nguồn vốn trên thị trường thông qua hình thức phát hành trái phiếu. Tuy gặp nhiều khó khăn do thị trường chứng khoán hoạt động cầm chừng, giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh, nhưng công ty chứng khoán NHCTVN đã tích cực tiếp cận khách hàng, phục vụ các loại dịch vụ hưởng phí như đại lý phát hành, lưu ký chứng khoán, tư vấn niêm yết v.v., nên lợi nhuận cuối năm vẫn đạt ở mức 2,9 tỷ đồng. Công ty Quản lý và Khai thác tài sản cũng đã bán và cho thuê số tài sản trị giá gấp bốn lần so với năm 2001, góp phần tích cực giải quyết nợ tồn đọng và cơ cấu lại NHCTVN. Hoạt động ngân hàng quốc tế Cùng với đà tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, với mạng lưới 623 ngân hàng đại lý, hoạt động thanh toán quốc tế của NHCTVN tăng mạnh trong năm 2002. Doanh số thanh toán xuất khẩu đạt trên 950 triệu USD, tăng 30% so với 2001. Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu đạt trên 1,7 tỷ USD, tăng 18% so với năm. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về chất lượng dịch vụ giữa các ngân hàng thương mại để giành khách hàng thì sự tăng trưởng nói trên là một thành công đáng khích lệ của NHCTVN nhờ có những ưu thế về mạng lưới và nền tảng công nghệ thông tin với quy trình xử lý nhanh, chính xác và hiệu quả. Diễn biến cung cầu ngoại tệ năm 2002 khá phức tạp: Sự biến động về tỷ giá, tỷ lệ kết hối giảm, tỷ lệ nhập siêu và tỷ lệ lạm phát tăng, những biến động trên thị trường tiền tệ quốc tế đã tạo nên nhiều khó khăn trong tìm kiếm lợi nhuận... Nhờ sự linh hoạt trong điều hành tỷ giá và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ kỳ hạn, hoán đổi nên doanh số kinh doanh ngoại tệ của NHCTVN trong năm đạt 3,9 tỷ USD và hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu thanh toán ngoại tệ cho khách hàng. Hoạt động chuyển tiền kiều hối tăng mạnh cũng đã góp phần tăng thu ngoại tệ cho ngân hàng. Năm 2002, doanh số chuyển tiền kiều hối của NHCTVN đạt 270 triệu USD, tăng gấp đôi so với năm 2001. Dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng của NHCTVN cũng được mở rộng, doanh số thanh toán năm 2002 tăng 22% so với 2001. Phát triển công nghệ Năm 2002, NHCT đã đưa nhiều dịch vụ ngân hàng điện tử vào hoạt động như ngân hàng qua Internet, dịch vụ tài khoản điện tử dành cho cá nhân và doanh nghiệp v.v. và đưa vào vận hành các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại như dịch vụ quản lý vốn, dịch vụ thanh toán thẻ, chuyển tiền tự động đồng thời triển khai rất nhiều các dự án ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và quản lý. NHCTVN tiếp tục triển khai kế hoạch nâng cấp hệ thống mạng của các chi nhánh từ hệ thống mạng Bus lên mạng hình sao, bổ sung 40 đường truyền Leased Line giữa các chi nhánh với trụ sở chính tạo tiền đề cho việc triển khai các dịch vụ mới của NHCTVN. Tiếp theo việc triển khai hệ thống ATM trong giải pháp tự động hóa Chi nhánh (OSFA), đội ngũ kỹ thuật NHCTVN phối hợp với đối tác Getronics hoàn tất phát triển ứng dụng giao dịch theo mô hình Ngân hàng hiện đại (giao dịch một cửa). Ðây là giải pháp được tích hợp với hệ thống ATM, quản lý tài khoản khách hàng, quản lý mẫu dấu chữ ký, xử lý giao dịch tập trung với các thiết bị chuyên dùng, được triển khai thành công từ tháng 8/2002 cho Chi nhánh Ðống đa, 2 phòng giao dịch và 01 Quỹ tiết kiệm. Năm 2003, NHCTVN sẽ tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin và trang thiết bị tin học, tăng cường đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng, sử dụng kỹ thuật tiên tiến áp dụng trong hoạt động ngân hàng, phù hợp với yêu cầu phát triển nghiệp vụ, đặc biệt trong các lĩnh vực sử dụng công nghệ mang tính cạnh tranh, kết hợp công nghệ thông tin với chiến lược kinh doanh và quản lý rủi ro cũng sẽ được đặc biệt chú trọng.
ĐỀ ÁN CƠ CẤU LẠI NHCTVN NĂM 2002Năm 2002 là năm thứ hai NHCTVN thực hiện Ðề án cơ cấu lại tổ chức và hoạt động trong giai đoạn 10 năm (2001 - 2010) với mục tiêu chiến lược phát triển NHCTVN đến năm 2010: “Xây dựng NHCTVN thành một ngân hàng thương mại chủ lực và hiện đại của Nhà nước, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tài chính lành mạnh, kỹ thuật công nghệ cao, kinh doanh đa chức năng, chiếm thị phần lớn ở Việt Nam”. Phương châm hành động là: “Phát triển - An toàn - Hiệu quả và Hội nhập” Kết quả sau hai năm thực hiện Ðề án Tái cơ cấu đã được Chính phủ phê duyệt, NHCTVN đã hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu theo đúng tiến độ và lộ trình cam kết với Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới. Trong hai năm 2001 và 2002 NHCTVN đã giải quyết trên 2.200 tỷ đồng nợ khó đòi và nợ tồn đọng, trong đó chỉ riêng trong năm 2002 đã xử lý được 1.300 tỷ đồng, làm giảm hẳn tỷ lệ nợ quá hạn từ 9,4% năm 2000 xuống 3,9% năm 2002, qua đó nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng. Chỉ tiêu trích dự phòng rủi ro đều đạt và vượt trên 1,5 lần so với kế hoạch hàng năm, nhờ đó đã tạo nguồn vốn hỗ trợ tốt cho việc xử lý nợ tồn đọng, đồng thời từng bước điều chỉnh các chỉ tiêu tài chính theo các chuẩn mực quốc tế cơ bản. Các tiêu chuẩn kế toán cũng dần được điều chỉnh theo thông lệ quốc tế. Từ năm 2001 NHCTVN đã thực hiện chế độ kế toán dự thu, dự trả. NHCTVN song song thực hiện việc triển khai Dự án Hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán, trên cơ sở đó tiến hành điều chỉnh cơ cấu lại tổ chức bộ máy và hoạt động kinh doanh theo mô hình một ngân hàng thương mại hiện đại, chú trọng phát triển các sản phẩm và dịch vụ hiện đại đồng thời tăng thêm các dịch vụ tiện ích trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính. Việc kiểm toán quốc tế hàng năm cũng được thực hiện. Năm 2002, do thực hiện thành công giai đoạn 1 của Ðề án Tái cơ cấu nên tháng 10/2002 Chính phủ đã cấp bổ sung 1.000 tỷ đồng vốn điều lệ cho NHCTVN, nâng tổng vốn lên 3.173 tỷ đồng. Tiềm lực tài chính được tăng lên là một thuận lợi lớn cho kinh doanh, các chỉ số an toàn được cải thiện, uy tín được nâng cao, tăng khả năng đầu tư cải tiến công nghệ hiện đại hoá hoạt động ngân hàng, là bước khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới của NHCTVN. Khả năng NHCTVN sẽ hoàn tất kế hoạch cơ cấu lại ngân hàng theo đúng kế hoạch được phê duyệt.
Báo cáo tài chính đã được Công ty Kiểm toán và Tư vấn A&C (Bộ Tài chính)kiểm toán cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31/12/2002 Cơ sở lập các báo cáo tài chính Các báo cáo tài chính của NHCTVN được lập theo chế độ Kế toán của Việt Nam áp dụng cho các tổ chức tín dụng do NHNN Việt Nam ban hành. Riêng báo cáo tài chính của Công ty chứng khoán NHCTVN áp dụng Hệ thống Kế toán Công ty chứng khoán do Bộ Tài Chính Việt Nam ban hành. Các báo cáo tài chính tổng hợp thể hiện số liệu hoạt động của toàn Hệ thống NHCTVN bao gồm Hội sở chính; Sở giao dịch I, II; Các chi nhánh; Công ty cho thuê tài chính; Công ty Quản lý và Khai thác tài sản; Các đơn vị sự nghiệp như Trung tâm đào tạo, Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin. Niên độ Kế toán từ 1/1/2002 đến 31/12/2002. Ðơn vị tính trong các báo cáo tài chính tổng hợp là triệu đồng Việt Nam. Tóm lược một số nguyên tắc kế toán chủ yếu 1. Nguyên tắc chuyển đổi: Tài sản và công nợ thể hiện bằng các đồng tiền khác với Ðồng Việt Nam được qui đổi thành Ðồng Việt Nam theo tỷ giá do NHCTVN công bố vào ngày 31/12/2002 (15.403 VND/USD). Những nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ trong năm được ghi theo nguyên tệ và qui đổi ra VND theo tỷ giá tại ngày phát sinh nghiệp vụ. Chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại ngoại tệ kinh doanh và chênh lệch của các nghiệp vụ phát sinh trong năm được hạch toán vào kết quả lỗ, lãi. 2. Hạch toán doanh thu, chi phí: Theo qui định của NHNNVN, từ năm 2001 NHCTVN đã thực hiện chế độ kế toán dự thu, dự trả trong việc Hạch toán thu nhập và chi phí. 3. Cho vay: Phản ánh dư nợ gốc chưa thanh toán đến 31/12/2002, bao gồm cả các khoản cho vay, cho vay đồng tài trợ, chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, cho vay do bảo lãnh. 4. Góp vốn liên doanh, mua cổ phần được hạch toán bằng nguyên tệ số vốn thực góp và được qui đổi thành đồng Việt Nam. 5. Tài sản cố định được tính nguyên giá trừ đi hao mòn luỹ kế. Tỷ lệ khấu hao được tính theo quy định của Bộ Tài Chính. 6. Lãi chưa phân phối được xác định bằng kết quả kinh doanh còn lại chưa phân phối vào các quỹ sau khi đã trừ các khoản thuế thu nhập, thuế vốn, các khoản tạm trích vào các quỹ.
. Nguồn vốn sử dụng Tài sản có Năm 2002, tổng tài sản của NHCTVN đạt 67.980 tỷ đồng và tăng 16,5% so với 2001. Các tài sản chiếm tỷ trọng lớn là cho vay, tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng và đầu tư vào chứng khoán.
Năm 2002, NHCTVN thực hiện xoá nợ được trên 553 tỷ VNÐ. Tuy nhiên số nợ này vẫn được theo dõi ngoại bảng và NHCTVN vẫn nỗ lực thu hồi lại số nợ trên. Các giao dịch trên thị trường liên hàng và thị trường tiền tệ tăng 8,2% so với 2001, trong đó chủ yếu là nguồn tiền nhàn rỗi đầu tư vào thị trường liên ngân hàng và thị trường tiền tệ nhằm tăng hệ số sử dụng vốn, tăng thu nhập cho ngân hàng đồng thời tăng khả năng thanh khoản. Một khoản mục nữa có thể đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng là đầu tư chứng khoán. Ðầu tư vào chứng khoán năm 2002 tăng 46%, trong đó chủ yếu là tăng đầu tư chứng khoán Chính phủ do khoản trái phiếu được Chính phủ cấp vốn bổ sung trong năm 2002. NHCTVN là ngân hàng 100% sở hữu của Nhà nước. Vốn được hình thành từ vốn Nhà nước giao và vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại trong quá trình hoạt động kinh doanh. Năm 2002, NHCT được NHNN cấp bổ sung 1.000 tỷ đồng vốn điều lệ dưới dạng trái phiếu chính phủ, nâng tổng vốn chủ sở hữu của NHCT lên 3.173 tỷ đồng. Số trái phiếu này có thời hạn 20 năm và được trả lãi suất cố định 3,3%/năm. Tài sản nợ Các khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản nợ là tiền gửi của khách hàng và các tổ chức tài chính, vốn huy động từ phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và một phần nhỏ là vốn đi vay. Ngoài ra, NHCTVN còn thực hiện việc đa dạng các sản phẩm huy động vốn và đã thu hút được gần 4,5 nghìn tỷ đồng qua các hình thức phát hành kỳ phiếu, trái phiếu bằng cả VNÐ và ngoại tệ, từng bước cải thiện cơ cấu nguồn vốn từ ngắn hạn sang trung và dài hạn. Thu nhập Tổng thu nhập tăng 19% và thu nhập sau thuế tăng 14% so với năm 2001. Trong tổng các nguồn thu của ngân hàng, thu nhập từ lãi chiếm 93%, trong khi thu nhập từ phí và dịch vụ chỉ chiếm 7%.
Trong khi đó, dù số dư tiền gửi tại NHNN và các TCTD tăng nhưng thu lãi tiền gửi lại giảm. Nguyên nhân chính do số dư tiền gửi bình quân trong năm 2002 thấp hơn so với số dư cuối năm. Ngoài ra lãi suất tiền gửi ngoại tệ (khoản mục chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng tiền gửi) giảm mạnh xuống 1,25%, mức thấp nhất trong 40 năm qua, cũng ảnh hưởng tới thu lãi tiền gửi. Chênh lệch tỷ lệ lãi suất tăng 0,12% một phần nhờ giảm nợ quá hạn không sinh lời, một phần khác do NHCTVN đã có những cải thiện nhât định trong việc quản lý tài sản. Trong thu nhập ngoài lãi, thu phí dịch vụ chiếm tới 52, trong đó chủ yếu là thu từ dịch vụ thanh toán. Năm 2002 thu phí dịch vụ tăng 23% so với 2001. Ðiều này phản ánh những nỗ lực của NHCTVN trong việc thực hiện phương châm tăng tỷ trọng thu nhập từ phí trong tổng thu nhập của ngân hàng, phù hợp với xu thế kinh doanh hiện đại. Chi phí Trong tổng chi phí, chi phí trả lãi chiếm 64%, chi phí hoạt động kinh doanh chiếm 19% và chi phí dự phòng rủi ro chiếm 17%.
Chi trả lãi tiền gửi và kỳ phiếu tăng 9%, xuất phát từ nguyên nhân NHCTVN tăng lãi suất huy động VNÐ (chiếm tới 58% trong tổng vốn huy động) trung bình 0,08%/tháng để thu hút thêm nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, kết quả là số dư tiền gửi vào cuối 2002 tăng 12% so với 2001. Chi trả lãi tiền vay tăng 28% dù số dư vay nợ giảm do trong năm 2002 thị trường vốn khan hiếm, cung cao hơn cầu nên lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng tăng nhiều so với năm 2001.
|